top of page
Tìm kiếm

KHÁI LƯỢC VỀ GIẤY THỦ CÔNG TRONG HỘI HỌA MÀU NƯỚC

Đã cập nhật: 16 thg 3, 2022


“Nguyễn Ngọc Quân, 2022– Bạn đọc có thể lưu giữ bài viết này để sử dụng cho cá nhân mình hoặc chia sẻ nguyên văn và miễn phí trên internet. Mọi hình thức sử dụng khác như in ấn, sao chép, dù là một phần hay toàn bộ, để phát hành trong các ấn phẩm như sách, báo chí, luận văn, hay nhằm mục đích thương mại v.v. đều vi phạm bản quyền nếu không nhận được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả.”

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới họa sỹ Nguyễn Đình Đăng và họa sỹ Tạ Duy đã chia sẻ những kiến thức vô cùng quý báu để tôi viết bài này.


Thuật ngữ paper có nguồn gốc từ papyrus, một loại giấy của Ai cập cổ đại (khoảng thiên niên kỷ thứ tư trước Công nguyên) được làm từ cây thủy sinh họ cói ( Cyperus paypyrus ). Papyrusm 2 lớp, được chế tác bằng cách cắt thân cây thành các dải mỏng rồi ngâm trong giấm, tiếp theo các dải papyrus đươc xếp song song sát nhau thành một tấm, lớp sau vuông góc với lớp trước. Sau đó thợ làm giấy sẽ dùng búa đập dập thật đều bề mặt, chất keo tự nhiên trong papyrus sẽ liên kết các sợi lại với nhau, tấm giấy sau khi đập dập sẽ được ép khô và đánh bóng bề mặt bằng đá nhẵn.



PHẦN 1. GIẤY PHƯƠNG ĐÔNG

1.1 Giấy Xuyến

1.1.1 Giới thiệu chung

Mặc dù papylus là khởi thủy cho việc dùng nguyên liệu thực vật làm vật liệu đỡ cho vẽ hoặc viết, tuy nhiên phải đến khoảng năm 105 sau Công Nguyên, một người Trung Quốc tên là Thái Luân (61 hoặc 63-121) đã cải tiến quy trình sản xuất giấy thì một loại giấy tiêu chuẩn mới được ra đời và quy trình đó vẫn có tầm ảnh hưởng cho đến tận ngày nay.

Trong sách Hậu Hán Thư có viết: “Từ xưa người ta viết trên các thanh trúc được buộc lại với nhau, còn dùng loại lụa mỏng (kiêm bạch) thì gọi là Chỉ (giấy). Nhưng kiêm bạch thì quá đắt còn các thanh trúc thì quá nặng nên không tiện sử dụng. Vì thế Thái Luân nghĩ ra cách làm giấy từ vỏ cây, sợi gai vụn, vải cũ và lưới cá. Năm Nguyên Hưng thứ nhất (105) ông tâu lên Hoàng đế và được khen thưởng. Từ đấy giấy trở nên thông dụng và thiên hạ đều gọi là giấy Thái hầu”

Thái Luân chế giấy bằng cách lấy bên trong vỏ thân cây dâu tằm và xơ cây tre đem trộn với nước rồi giã nát với dụng cụ bằng gỗ, xong ông đổ hỗn hợp lên tấm vải căng phẳng và trải mỏng rồi để ráo nước. Khi đã khô, Thái Luân khám phá ra rằng có thể viết lên dễ dàng mà lại nhẹ nhàng. Thái Luân cũng đã thử các loại vỏ cây, cây gai dầu, lụa, và thậm chí lưới đánh cá, nhưng các công thức chính xác đã bị thất truyền.[*]

Sau Thái Luân quy trình làm giấy được cải tiến thêm một lần nữa và sợi thanh đàn được sử dụng làm nguyên liệu chính để tạo thành giấy Xuyến như ngày nay. Có rất nhiều truyền thuyết về sự cải tiến này, một trong những truyền thuyết đó được cho là của Khổng Đan (? _ ?), là học trò của Thái Luân. Tương truyền rằng, sau khi Thái Luân mất, để tưởng nhớ sư phụ, học trò của ông là Khổng Đan muốn sản xuất một loại giấy trắng như tuyết để vẽ chân dung Thái Luân. Một ngày nọ, bắt gặp một thân Thanh đàn cổ thụ nằm vắt vẻo bên dòng suối trong một hẻm núi ở miền nam tỉnh An Huy. Sau nhiều năm được rửa trôi và xói mòn bởi nước chảy, vỏ cây đã mục nát và lộ ra những sợi dài màu trắng. Quá vui mừng, Khổng Đan đã thử nghiệm với sợi làm từ vỏ cây Thanh đàn cho đến khi sản xuất thành công, đây cũng tiền thân của giấy Xuyến. Tuy nhiên đây chỉ là giai thoại dân gian, không có sử liệu nào chứng thực. Giấy Xuyến còn có tên gọi khác là giấy Tuyên, trong bài "Giấy trong Thư họa _ Chuyện Thư Chuyện Họa", tác giả Tạ Duy có viết: "Về tên gọi của giấy Xuyến hay giấy Tuyên có hai cách giải thích. Cách giải thích thứ nhất cho rằng loại giấy này xuất hiện vào thời vua Tuyên Tông nhà Minh nên thành tên. Cách giải thích thứ hai cho rằng vì nơi sản xuất ra loại giấy này là Tuyên Thành tỉnh An Huy nên giấy mang tên nơi xuất xứ. Giờ đây cách giải thích thứ hai được đại đa số tán thành hơn cả, bởi theo sách Tân Đường thư, việc Tuyên Thành cống giấy đã có từ thời Đường nên không thể có chuyện mãi đến thời Minh mới có được. Nhưng cũng không nên đánh đồng giữa giấy Tuyên Thành thời Đường với giấy Tuyên ngày nay. Bởi khoảng cách về niên đại giữa hai dòng giấy đó quá xa. Giấy Tuyên ngày nay thực chất là giấy của huyện Kính, theo ghi chép trong ‘Kính xuyên tiểu lĩnh Tào thị tông phổ” khắc năm Đồng Trị thứ 11, nó chỉ xuất hiện sau khi một người tên Tào Đại Tam chạy loạn quân Mông Cổ cuối thời Tống đến lánh nạn và phát triển nghề làm giấy tại huyện Kính tỉnh An Huy, hoàn toàn không dính dáng đến giấy Tuyên Thành thời Đường".

1.1.2 Nguyên liệu và sản xuất Giấy Xuyến rất mềm và mỏng nhưng có cường độ chịu lực kéo cao, do đó nó được ca ngợi là loại giấy tốt nhất trong lịch sử sản xuất giấy của Trung Quốc. Những bức tranh trên giấy Tuyên với lịch sử hơn 1.000 năm được lưu giữ trong Bảo tàng Cố Cung (Bắc kinh_Trung quốc) hay các bảo tàng địa phương khác ở Trung Quốc là minh chứng cho chất lượng bền bỉ của loại giấy này.

Hàn Hoảng (723–787) Mực và màu trên giấy Tuyên (Bảo tàng Cố cung Bắc kinh)

Nguyên liệu chính để làm giấy Xuyến là vỏ cây Thanh đàn (Pteroceltis tatarinowii) mọc ở vùng núi phía nam tỉnh An Huy, vỏ cây được thu hoạch trong mùa đông, từ những cành non khoảng hai hoặc ba năm tuổi vì khi đó chất xơ của chúng là phù hợp nhất cả về kích thước và chất lượng.

Quy trình sản xuất giấy Xuyến rất phức tạp với khoảng 18 bước, trong đó một số bước được giữ bí mật với người ngoài. Nhưng sự phức tạp chủ yếu ở khâu tinh chế bột giấy, còn lại về cơ bản gồm những bước sau:

  • Sơ chế vỏ cây

  • Giã dập và tách xợi

  • Huyền phù bột giấy

  • Xeo giấy

  • Ép kiệt nước

  • Tách và phơi giấy

  • Kiểm tra hoàn thiện

Kết cấu của giấy Xuyến bao gồm những sợi dài tạo nên xương sống của giấy còn những sợi ngắn hơn kết hợp với một lượng nhỏ bột nghiền từ rơm rạ lấy từ loại lúa (Oryza Sativa) trồng trên đất pha cát tạo nên lớp phủ bì giúp bề mặt giấy phẳng mịn và có độ mao dẫn rất êm. Giấy Xuyến thượng hạng chứa khoảng 85% tỷ lệ sợi thanh đàn trong thành phần. Sợi thanh đàn có thể thay bằng các loại sợi khác tùy thuộc vào nguồn nguyên liệu bản địa ví dụ như sợi Dướng (Broussonetia papyrifera) hay sợi Dó (Aquilaria Thymeleaceae) như ở Việt nam. Quy trình sản xuất giấy thủ công phương Đông của các nước không có nhiều sự khác biệt nên tôi sẽ trình bày quy trình này chi tiết hơn ở phần sau ­_ giấy Washi (Nhật bản).


1.1.3 Giấy Xuyến trong hội họa thủy mặc Trung Quốc

Giấy Xuyến có 3 dịnh dạng là: Sinh chỉ, bán thục chỉ và thục chỉ, tùy theo kỹ thuật vẽ mà lựa chọn giấy cho phù hợp.

* Sinh Chỉ: là giấy mộc, có khả năng hấp thụ mực cao, do đó tạo ra sắc thái mực phong phú, phù hợp với lối vẽ khoáng đạt của bút pháp tả ý. Kỹ thuật vẽ mực và màu nước trên sinh tuyên hoàn toàn khác với kỹ thuật vẽ màu nước châu Âu bởi màu sẽ xuyên thấu qua nền giấy có độ thấm hút, chính vì vậy một tấm thảm chuyên dụng thường được lót dưới tờ giấy giúp kiểm soát được phần nào độ loang màu trong quá trình vẽ. Bút pháp tả ý rất khó và phức tạp, đòi hỏi họa sỹ phải có kỹ thuật vô cùng điêu luyện để kiểm soát độ đặc của màu và độ loãng của nước trong lông bút cùng một lúc bởi mỗi đường bút chỉ vẽ một lần, không phác thảo trước và không tô đi tô lại. Ngoài ra, các yếu tố như tốc độ đi bút, khả năng linh hoạt và tạo áp lực của tay khi bút tiếp mặt giấy tạo độ loang vừa đ và phải đảm bảo có độ chuyển sắc trong một nhát bút.

Tề Bạch Thạch (1864 _ 1957)

* Thục Chỉ: là giấy mộc được phủ phèn, tùy theo lượng phèn phủ dày hay mỏng mà gọi là thục chỉ hoặc bán thục chỉ. Phèn có tác dụng làm giảm độ thấm hút tự nhiên của giấy, làm cho giấy trở lên cứng hơn, cho phép vẽ những nét mỏng và tinh xảo hơn vì vậy thục pchỉù hợp cho lối vẽ công bút tỉ mỉ, chi tiết. Tranh thủy mặc Trung quốc sử dụng mực và màu nước có chất dính là keo động vật, chính vì vậy phèn còn có tác dụng như một kết dính trung gian bởi phèn là muối sulphate kép của nhôm và kali ở dạng tinh thể ngậm nước [KAl(SO4)2], khi phèn thủy phân sẽ sinh ra ion Al3+ [Al3+ + 3H2O → Al(OH)3↓ + 3H+], trong đó Al(OH)3 là kết tủa dạng keo có tác dụng hút các hạt khoáng màu lơ lửng trong nước lắng xuống. Ngoài ra phèn chua còn là một chất kháng khuẩn trong y tế nên có khả năng hạn chế nấm mốc.

Kỹ thuật vẽ màu nước trên thục chỉ có một số nét tương đồng với kỹ thuật màu nước châu Âu bởi thục chỉ sẽ giữ màu nổi trên bề mặt rồi thấm xuống từ từ, cho phép chuyển sắc độ bằng kỹ thuật rửa màu (wash gradient), đồng thời cũng có thể vẽ chồng màu (glazing) hoặc nhấc màu (lifting).

Trần Dung _ Cửu long đồ (trích đoạn). Mực và màu trên giấy. 46,3 cm - 1092,4 cm. Bảo tàng mỹ thuật Boston, Hoa Kỳ

1.2 Washi: 1.2.1 Giới thiệu chung

Kỹ thuật làm giấy Trung quốc được du nhập vào Nhật bản bởi các nhà sư, khoảng năm 610 CN, dưới thời Asuka (592_710). Tỉnh Gifu được cho là nơi khởi sinh của nghề làm giấy của Nhật bản. Trong suốt 1.300 năm, Washi đã trở thành xương sống của nhiều loại hình nghệ thuật Nhật Bản. Trên thực tế, Washi đã ăn sâu vào văn hóa Nhật Bản theo đúng nghĩa đen khi mà có những thị trấn được xây dựng xung quanh nghề làm Washi.

1.2.2 Nguyên liệu

Quy trình làm Washi kế thừa từ Trung Quốc nên về cơ bản không có quá nhiều sự khác biệt trong các bước so với quy trình sản xuất giấy Xuyến. Nguyên liệu sợi làm giấy được thay thế bằng thực vật bản địa như: Kozo (Broussonetia kazinoki), Gampi (Wikstroemia sikokiana), Mitsumata (Edgeworthia chrysantha).

Trong ba loại cây trên, cây Kozo được dùng làm giấy nhiều nhất bởi chất sợi dài và dễ thu hoạch, cây Mitsumata cho sợi ngắn hơn và thời gian chờ đợi thu hoạch khá dài. Còn cây Gampi rất khó trồng ở bản địa nên sản lượng thấp, chủ yếu thu hoạch từ những cây mọc tự nhiên. Cũng giống như làm giấy ở Trung quốc, thời điểm lý tưởng nhất trong năm để làm Washi truyền thống là mùa đông, khi nước đóng băng tự nhiên và không có tạp chất, nguyên liệu tiêu chuẩn nhất để làm giấy. Các nghệ nhân Washi cũng có thể tận dụng nước được rã đông từ băng để đảm bảo rằng nước họ sử dụng sẽ tinh khiết không có tạp chất và không làm đổi màu giấy. Có ba loại Washi là Ganpishi , KozogamiMitsumatagami , tên mỗi loại giấy gắn liền với tên nguyên liệu gốc của nó, các vùng khác nhau của Nhật Bản kỹ thuật làm giấy sẽ có đôi chút khác nhau tùy thuộc vào mục đích sử dụng.

  • Ganpishi: Được làm từ vỏ cây Gampi, cây tự nhiên phát triển chiều cao từ 1,0 - 1,5m, chất sợi có vẻ óng ánh tự nhiên nên bề mặt giấy Ganpishi có độ bóng, mỏng, bán trong và có khả năng chống côn trùng và lão hóa giấy. Giấy Ganpishi được đánh giá là loại Washi tốt nhất bởi cả độ hiếm của nguyên liệu và cấu trúc tự nhiên đặc biệt giúp mực không bị lem khi viết hay vẽ lên hoặc dùng trong kỹ thuật khắc acid.

Rembrandt van Rijn (1606 _ 1669) The Hundred Guilder Print, c.1647-1649. 28cm x 39.4cm Một bản khắc của danh hoạ Hà lan được in acid trên giấy Washi _ Ganpishi của Nhật bản. Từ lâu, người ta đã biết rằng khoảng từ năm 1647 trở đi, Rembrandt đã thực hiện nhiều bản in của mình trên các loại giấy thủ công phương Đông nhưng vẫn chưa rõ nó có nguồn gốc từ vùng nào. Gần đây các nhà nghiên cứu ở Nhật Bản và Hà Lan của bảo quốc gia Rijksmuseum đã bắt đầu nghiên cứu và cho kết quả là giấy Rembrandt sử dụng có nguồn gốc từ Nhật Bản và đặc biệt hơn là từ vùng Echizen, thuộc tỉnh Fukui. Rembrandt thậm chí còn là người tiên phong trong việc sử dụng giấy phương Đông để in bằng kỹ thuật phương Tây.
  • Kozogami: Được làm từ vỏ cây Kozo, cây tự nhiên cao từ 3 - 5 mét với thân có đường kính khoảng 10cm, sợi Kozo được làm từ phần thớ gỗ cứng cáp nhất nên chất giấy dày dặn, mạnh mẽ. Cây Kozo được trồng thành từng vụ và tái trồng trọt hàng năm, vì thế không bao giờ hết nguyên liệu để làm giấy trong quá trình sản xuất, đây cũng là loại Washi phổ biến nhất.

Loại Kozogami đặc biệt nhất là Tosa Tengu, còn gọi là Tosa Tengujo-shi, bởi nó là loại giấy mỏng nhất thế giới, được ví như "cánh phù du". Tosa Tengu vừa trong suốt vừa dẻo, được làm 100% từ Kozo. Nơi xuất xứ của loại giấy này không phải là Tosa mà là Gifu. Loại giấy này đã được sản xuất trong thời kỳ Muromachi (1336 _ 1573), có nhiều công dụng khác nhau, được sử dụng trên khắp thế giới trong các ứng dụng bảo quản & phục chế, thường dùng để dán xen kẽ, sửa chữa & bảo vệ bề mặt. Ngoài ra giấy Tengu còn được dùng làm phác thảo cho các bản in khắc gỗ hoặc giấy can. Độ mỏng nhất của giấy Tengu hiện nay là 1,6 gsm (Gram Per Square Meter _ Gram trên mét vuông).

Gần đây người ta chú ý đến việc các tài liệu lịch sử và tranh vẽ của Nhật Bản có mức độ bảo quản cao hơn nhiều so với các nước khác. Tosa Tengu đã được quốc tế công nhận là giấy tốt để phục hồi các tài sản văn hóa. Do đó, các tài sản văn hóa nổi tiếng thế giới như các bức tranh trên tường của Michelangelo ở Vatican và các tác phẩm được bảo quản trong Louvre ở Paris bắt đầu sử dụng loại giấy này cho mục đích trùng tu.

  • Mitsumatagami: Được làm từ cây Mitsumata, cây tự nhiên phát triển chiều cao từ 1,0 – 1,5m, chất sợi mềm mại, giấy mitsumata độ bền cao và ít bị nhăn. Mitsumata cũng được trồng thành mùa vụ nhưng cần nhiều thời gian hơn giữa các lần thu hoạch vì thế loại giấy này cũng đắt tiền hơn giấy kozo.

1.2.3 Công cụ làm Washi cơ bản

  • Suketa: Trong đó Su là một tấm mành đan từ những nan trúc, độ dày của nan trúc được gia công tùy thuộc vào định dạng giấy. Còn Keta là khuôn gỗ bên ngoài, dùng để giữ Su trong quá trình xeo giấy.

  • Sukibune: Là bồn chứa hỗn hợp bột giấy, được làm từ gỗ thông hoặc tuyết tùng, ngày nay có thể dược thay thế bằng thép không gỉ.

  • Baichiku: Là gậy khuấy hỗn hợp bột giấy theo vòng tròn trong công đoạn huyền phù.

  • Umaguwa: Có hình dạng như chiếc lược lớn, công dụng giống như Baichiku nhưng được treo và gạt đi gạt lại theo một hướng.

1.2.4 Quy trình sản xuất Washi – Kozogami

  • Thu hoạch: Vào mùa đông, cây bụi Kozo 2 – 3 năm tuổi được thu hoạch bằng cách cắt thân cây thành các đoạn dài bằng nhau khoảng 1.2 cm và bó lại. Vỏ cây được tạo thành từ ba lớp, lớp ngoài màu đen (kurokawa), lớp giữa màu xanh lục (nazekawa) và lớp trong cùng trắng hơn (shirokawa).

  • Hấp kozo: Các bó Kozo được cho vào thùng gỗ, đậy nắp kín rồi hấp chín khoảng 2 giờ để vỏ mềm ra.

  • Tước và cạo vỏ: Bước tiếp theo vỏ cây được bóc khỏi thân khi vẫn còn nóng và ướt vì khi đó vỏ cây rất mềm, dễ bóc vì khi nguội vỏ sẽ cứng lại, dễ gãy. Sau đó người ta sẽ loại bỏ lớp đen bên ngoài của vỏ bằng cách ngâm trong nước và chà xát bằng bàn chân để không làm hỏng sợi. Sau khi lớp vỏ đen được loại bỏ, lớp màu xanh lục sẽ được cạo cẩn thận bằng dao, các mấu hoặc các đốm khác màu cũng được loại bỏ trong công đoạn này để có được lớp Shirokawa trắng tinh khiết nhất. Shirokawa sẽ được phơi khô ngoài trời và để tiếp tục tẩy trắng bằng ánh sáng tự nhiên cho đến khi đạt được độ trắng mong muốn.

  • Nấu kozo: Shirokawa khô sẽ được ngâm và rũ tại sông hoặc suối có nguồn nước sạch, dòng chảy của nước sẽ rửa trôi các tạp chất còn sót lại trong quá trình phơi. Sau đó Shirokawa được cho vào trong một bồn lớn chứa nước tinh khiết (nước có thể được rã đông từ băng và lọc kỹ trước khi sử dụng). Phương pháp truyền thống, người ta sẽ thêm vào nước lạnh một lượng vôi sống để tạo môi trường kiềm (hỗn hợp CaO, Ca(OH) 2 , CaCO 3 ), ngày nay có thể soda (muối natri carbonat _ Na₂CO₃), lượng kiềm sử dụng khoảng 15% - 20% trọng lượng khô của sợi đem nấu. Tiếp theo đun cho đến khi nước sôi rồi hạ nhỏ lửa trong khoảng 2 -3 giờ., nước sẽ chuyển sang màu nâu đậm khi các các tạp chất không phải Cenllulose được kiềm loại bỏ, đồng thời sợi cũng được làm trắng thêm lần nữa. Kiểm tra sợi sau hai giờ nấu bằng cách lấy một miếng dày rửa sạch và làm nguội bằng nước lạnh, nếu nó có thể tách được ra một cách nhẹ nhàng để lộ ra các lưới sợi nhỏ hoặc và kéo ra rộng ra một cách dễ dàng tức là sơi đã đủ chín, sau đó để nguội qua đêm trong dung dịch.

  • Chiritori: Shirokawa sau khi đểguội qua đêm được vớt ra, rửa sạch bằng nước tinh khiết để loại bỏ kiềm và tạp chất tồn đọng, sau đó người ta sẽ dùng tay để loại bỏ đi các mấu còn sót lại sau quá trình nấu. Công đoạn này tương tự như “nhặt xeo” trong quy trình làm giấy Dó Việt nam.

  • Giã dập: Tiếp theo Shirokawa được đặt lên phiến đá phẳng, dùng vồ gỗ đập dập hoặc có thể cho nguyên liệu vào cối đá, dùng chày gỗ để giã. Quá trình này sẽ tách Shirokawa thành các sợi rất mềm.

  • Đánh tách sợi: Shirokawa giã xong được cho vào máng chảy một chiều, dòng nước sẽ đẩy nguyên liệu qua một guồng quay có gắn các lưỡi liềm mỏng để tách thành các sợi đơn. Sau đó tháo van xả máng nước sẽ thu được bột giấy trông giống như bùn nhão, ngày này người ta dùng máy đánh sợi tự động.

  • Hòa hỗn hợp bột giấy: Bột giấy nhão được cho vào Sukibune hòa cùng với nước và Neri, một phụ gia không thể thiếu trong công đoạn huyền phù bột giấy của người Nhật. Neri thường được làm từ rễ cây Totoro Aoi(Abelmoschus manihot), loại cây này thuộc họ cẩm quỳ (malvaceae), trước đây được xếp vào chi dâm bụt (Hibiscus) nay được xếp vào chi vông vang (Abelmoschus). Đây là loại cây có độ nhớt, rễ cây sẽ đập dập rồi thêm nước vào để ủ cho đến khi thu được một chất lỏng sệt, hòa Neri vào hỗn hợp giấy sau đó dùng Umaguwa đánh đều hỗn hợp sẽ giúp các sợi nổi lơ trong nước, không bị bết vào nhau. Chất nhớt của Manihot sẽ tự biến mất theo thời gian, không tồn đọng thành tạp chất trên giấy.

  • Nagashisuki: Tương tự như kỹ thuật xeo giấy Dó Việt nam, đầu tiên là nhúng nông thật nhanh chóng để hỗn hợp bột giấy chảy qua bề mặt của Su để tạo thành mặt trước của tờ giấy, phần bột giấy thừa sẽ chảy ra rìa xa của Keta. Chao lắc Suketa nhanh và liên tục theo trục tung và trục hoành cho đến khi bề mặt bột giấy đồng đều rồi dốc nghiêng Suketa về phía cho chảy hết lượng nước dư. Bước tiếp theo nhúng Suketa sâu hơn và lặp lại quy trình của bước đầu tiên, cứ lặp đi lặp lại quy trình nhiều lần cho đến khi đạt được độ dày mong muốn. Trong suốt quá trình thực hiện Nagashizuki thì Suketa được treo cố định với hệ thống giàn treo phía trên, điều này giúp tạo đối trọng với trọng lượng của hỗn hợp bột giấy trên mặt Suketa và việc di chuyển hỗn hợp trên bề mặt trở nên dễ dàng hơn.

  • Ép giấy: Khi mặt giấy đã định hình, Su sẽ được gỡ khỏi Keta rồi thả từ từ xuống bề mặt. Bàn đỡ giấy sẽ được lót một tấm vải để thấm nước, sau đó bóc Su khỏi giấy. Toàn bộ quá trình này phải làm thật đều tay để đảm bảo bọt nước được đẩy hết ra ngoài giữa các lớp giấy và không dính cặn tạp chất.

Các lớp giấy ướt sẽ được chồng khít lên nhau sau đó phủ lên 1 tấm vải sạch rồi đặt lên một tấm ván gỗ trước khi ép. Tấm ván ép kết cấu gồm 2 lớp: lớp bề mặt là các thanh gỗ mỏng xếp song song và lớp xương sống là các thanh gỗ dày xếp vuông góc với lớp bề mặt. Khi ép sẽ đặt thêm 2 khối gỗ lớn vuông góc với xương ván ép & có chiều dài bằng chiều dài của ván ép. Cuối cùng đặt lên 1 miếng gỗ dày & vuông chính giữa trọng tâm của ván ép rồi dùng máy ép chi kiệt nước trong giấy ( lực ép khoảng hơn 200kg).

  • Tách tờ và sấy bằng buồng hơi nước: Khi giấy đã ráo nước, người ta sẽ bóc cẩn thận từ góc giấy từng tờ một rồi dùng bút lông thỏ quét dán phẳng lên trên bề mặt của buồng nhiệt hơi nước. Đầu tiên giấy được quét cố định 4 góc rồi quét từ giữa ngoài biên giấy cho đến khi bề mặt thật phẳng và sấy trong 20 phút.

  • Phơi nắng: Mặc dù giấy đã được sấy khô bằng buồn nhiệt nhưng vẫn có thể được phơi ngoài trời nếu thời tiết hanh khô và có nắng bởi nắng và gió tự nhiên ngoài tác dụng làm khô còn có thể khử mùi và làm trắng giấy.

  • Kiểm tra hoàn thiện: Sau khi giấy đã được phơi khô hoàn toàn, nghệ nhân sẽ kiểm tra chất lượng từng tờ bằng cách soi lên ánh sáng và uốn cong giấy để chắc chắn rằng giấy có bề mặt đồng đều, không có có vết xước hoặc bị dính cặn bẩn. Những tờ không đặt yêu cầu sẽ được loại bỏ để sử dụng cho những công dụng khác phù hợp hơn, không phải là hội họa.

1.2.4 Washi trong hội họa Nihoga

Washi cùng với lụa là những vật liệu đỡ quan trọng nhất được sử dụng trong Nihonga, tranh vẽ trên lụa gọi là Kenpon còn tranh vẽ trên Washi gọi là Shihon. Giấy có tuổi thọ cao hơn các vật liệu đỡ truyền thống khác và dễ xử lý, do đó giấy vẫn là vật liệu chủ đạo cho Nihonga đến ngày nay. Cùng với sự du nhập của kỹ thuật làm giấy, Nihonga cũng chịu ảnh hưởng từ tranh thủy mặc Trung Quốc, chính vì vậy Shihon có thể vẽ mực và màu nước trên nền Washi mộc hay Washi được phủ phèn hoặc phủ dsa (keo dộng vật + phèn) tùy theo kỹ thuật vẽ của họa sỹ mà chọn giấy cho phù hợp.

Sōami (1472 _ 1525)
Matsubayashi Keigetsu (1876-1963) Tranh trong thuộc sở hữu của nhà sưu tập Việt nam

Tài liệu tham khảo [*]. Hậu Hán thư. Phạm Diệp. Quyển 108. Thái Luân truyện. Thượng hải cổ tịch xuất bản xã, trang 262. năm xb 1960 * "Giấy trong Thư họa _ Chuyện Thư Chuyện Họa", tác giả Tạ Duy. * Characterisation and durability of contemporary unsized Xuan paper (Yuja Luo, Irena Kralj Cigić, Quan Wei & Matija StrLič) * Handmade Watercolor Paper ( Anne Harris Zyla _ Theses/ Rochester Institute Technology/ Usa) * Xuan paper making mills in Anhui, China (Henry Li) * The traditional handicrafts of making Xuan paper (Unesco) * Barkcloth and the origins of paper (Rod Ewins) * Paper in Ancient China (Mark Cartwright/ World History Encyclopedia) * https://awagami.com/pages/washi-paper-basics * https://www.ana-cooljapan.com/destinations/gifu/washipaperinmino * Making of CORSOYARD PAPER 2020/ Handmadepaper Corsoyard *The Making/ Sience Chanel (JST)

Hà nội 23/ 02/ 2022


 
 
 

Bài đăng gần đây

Xem tất cả

Bình luận


Mẫu đăng ký nhận

Cảm ơn bạn đã gửi!

0912045288

©2022 bởi QuanNN. Tự hào được xây dựng từ Wix.com

bottom of page